Home » Truyện Ma » Chuyện kinh dị ở khe Nghệ – Đông Triều – Quảng Ninh

Chuyện kinh dị ở khe Nghệ – Đông Triều – Quảng Ninh

Chuyện ma kinh dị ở khe Nghệ
Ông Hứa Văn Phán, nguyên thủ từ đền Sinh (An Sinh, Đông Triều, Quảng Ninh), kể nhiều chuyện về các lăng mộ vua Trần bị giới săn tìm kho báu phá nát bao nhiêu năm nay mà đau lòng. Không chỉ giới săn tìm cổ vật, mà cả chính quyền ngày xưa cũng tham gia phá lăng mộ. Người ta ủi cả lăng vua Trần Minh Tông làm đập nước, rồi cái đập trữ nước ấy nhấn chìm luôn cả lăng mộ vua Trần Anh Tông. Ông Nguyễn Văn Yên, người trông nom đền Thái, rồi ông Nguyễn Hữu Tâm, người dẫn tôi đến các lăng mộ đổ nát rất nhiệt tình, nhưng khi tôi đề xuất được đến di tích đổ nát lăng mộ vua Trần Nghệ Tông, ở khe núi có tên khe Nghệ, thì cả ông Phán, ông Yên, ông Tâm đều từ chối. Tôi nhờ rất nhiều người dân trong vùng, song tuyệt nhiên không ai dám dẫn tôi vào cái khe núi có vô số lời đồn khủng khiếp đó. Lý do họ đưa ra thật khó tin: Linh hồn vua Trần Nghệ Tông trách phạt.

Chuyện kinh dị ở khe Nghệ - Đông Triều - Quảng Ninh
Chuyện kinh dị ở khe Nghệ – Đông Triều – Quảng Ninh

Theo ông Tâm, từ nhiều năm nay, không người dân nào ở xã An Sinh dám đặt chân đến khe Nghệ ngoài các nhà khoa học, khảo cổ. Người dân ở đây tin rằng, linh hồn vua Trần Nghệ Tông vẫn hiện hữu ở khe núi này và sẽ gây họa cho bất kỳ ai dám bén mảng đến khe núi ấy.

Tôi chẳng tin chuyện một ông vua đã chết cách nay 700 năm lại trách phạt một người tìm đến mộ ông không phải với mục đích đào phá mộ, nên tôi quyết tâm tự hỏi đường tìm đến khe Nghệ. Trời lất phất mưa. Con đường vòng vèo, nhấp nhô và trơn trượt dưới chân phía Tây dãy Yên Tử từ đập Trại Lốc dẫn đến xóm Bãi Đá, thuộc thôn Bãi

Dài. Những căn nhà lúp xúp ẩn dưới những tán cây trên những quả đồi buồn tẻ, vắng người. Tôi phải hỏi đường đến cả chục lần, mất cả giờ đồng hồ mới tìm được đến khe Nghệ. Tôi vứt xe ở triền đồi có cột điện cao thế lừng lững, rồi cắt những trang trại rậm rịt vải, nhãn, na mà đi. Một nếp nhà mái ngói nhỏ bé nằm tênh hênh ven đồi. Vừa mon men đến lối mòn thì đàn chó xông ra sủa inh ỏi. Có lẽ, đến cả chục chú cẩu cùng xông ra, với bộ dạng muốn ăn tươi nuốt sống khách. Người đàn ông từ trong nhà đi ra, quát tháo ầm ĩ, tức thì bọn chó cúp đuôi chạy hết vào bếp.

Dường như lâu lắm rồi chẳng có người lạ tìm đến khe núi hoang vắng này, nên anh Nguyễn Văn Chạm tỏ ra vồn vã. Anh Chạm bảo rằng, cả cái chân núi và lưng đồi khe Nghệ rộng mênh mông này chỉ có mỗi mình anh sinh sống. Năm trước, cô con gái anh về Hà Nội học, thì chỉ còn mỗi vợ chồng anh như hai cái bóng trên núi hoang. Ngày ngày anh dẫy cỏ, chăm vườn cây ăn quả, rồi chơi đùa với đàn chó. Tôi hỏi: “Sao anh nuôi nhiều chó thế?”, anh bảo, sống giữa khe núi hoang, chả có người, nên nuôi nhiều chó cho đỡ buồn. Tôi dò hỏi thêm vài điều, thì anh mới tiết lộ rằng, theo lời các cụ, chó có khả năng đuổi “ma”, nên anh mới nuôi nhiều chó như vậy. Với lại, đêm hôm tĩnh mịch, có tiếng chó sủa, cũng thấy an lòng hơn.

Loading...

Trò chuyện một hồi về cuộc sống buồn tẻ giữa đồi hoang, tôi đề nghị anh Chạm dẫn tôi đi tìm lăng mộ vua Trần Nghệ Tông. Nhắc đến lăng mộ ông vua này, anh Chạm tỏ ra ngần ngừ. Anh bảo rằng, đã mấy năm nay, chẳng có ai mò đến lăng mộ ấy cả, lại nghe nhiều chuyện kinh dị, nên anh cũng hãi. Tuy nhiên, tôi đã cố gắng thuyết phục anh rằng, tôi và anh đi tìm lăng mộ vua Trần để nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng, chứ có phải đào phá, xâm hại mộ đâu mà vua trách phạt, anh mới vững tâm và đồng ý dẫn đi. Trước khi dẫn tôi vào khe Nghệ, anh Chạm đốt nhang thắp trên bàn thờ, khấn vái thần linh, thổ địa, khấn vái cả vua Trần Nghệ Tông, cho phép anh được dẫn nhà báo vào khe núi. Nỗi sợ hãi thế giới vô hình của người đàn ông này khiến bước chân tôi lên khe Nghệ có cảm giác chờn chợn.

Nhà anh Chạm dù nằm sâu trong núi, nhưng mới chỉ là ở chân dốc vào thung lũng kẹp giữa khe hai quả núi, gọi là khe Nghệ. Đứng trên lưng chừng đồi, anh Chạm khoát tay chỉ thung lũng khe Nghệ để tôi có được hình dung cụ thể về khu vực. Toàn bộ diện tích thung lũng khe Nghệ là một quả đồi thoai thoải rộng khoảng 100 héc-ta. Xóm Bãi Đá nằm quây quần dưới chân quả đồi này. Mộ vua Trần Nghệ Tông nằm ở vị trí cao nhất của quả đồi nhô lên giữa khe núi. Mặt bằng đỉnh đồi rộng tới 5 héc-ta. Xưa kia, toàn bộ mỏm đồi rộng mênh mông này là quần thể di tích lăng mộ vua Trần Nghệ Tông.

Đi qua khu vườn na được dọn cỏ sạch sẽ của vợ chồng anh Chạm thì đến khu vườn vải. Vườn vải rộng mênh mông, choán hết mỏm quả đồi, ngút tầm mắt. Tuy nhiên, trang trại vải này như một vườn hoang, cỏ mọc lút gối. Chúng tôi phải vạch cỏ mới đi xuyên qua được khu vườn vải này. Những cây vải khá lớn, song do không được chăm sóc nên xác xơ. Theo lời anh Chạm, vào mùa vải, những cây vải này cũng ra quả, nhưng quả tự rụng xuống đất, hoặc chỉ có chim ăn, vì chẳng ai dám vào khu vườn vải này để hái quả. Anh Chạm bảo: “Mấy năm nay không có bóng người nào tìm vào khu vườn vải này đâu. Người dân trong vùng cũng chẳng dám thả trâu, bò lên đồi. Ai cũng sợ vua trừng phạt vì tội phá mộ tìm của quý. Đất này là đất của vua, những cây vải cũng là của vua, nên không ai dám xâm phạm. Hễ ai xâm phạm vào đất này là y rằng có chuyện”.

Sau một hồi luồn lách trong đám cỏ lác, thì chúng tôi đến một khu đất thoáng đãng, không có cây vải nào. Tuy nhiên, khu đất ấy lau lác mọc um tùm, cao đến ngực. Tại khu đất trống, có một “miếu thờ” vua Trần Nghệ Tông. Nói là miếu thờ cho đỡ tủi, chứ hình ảnh thực tế thật thảm hại. Anh Chạm bảo, mấy năm trước, các nhà khoa học về nghiên cứu, đo vẽ một hồi, rồi họ bỏ đi. Các nhà khoa học xót xa cho hiện trạng lăng mộ vua Trần Nghệ Tông, nên đã chi tiền mua 2 tấm phi-brô-ximăng, còn anh Chạm thì nhiệt tình chặt mấy khúc cây, rồi dựng lên cho có chỗ đặt bát hương. Từ bấy đến nay cũng chẳng có ai hương khói, thờ tự. Bát hương lạnh lẽo phơi nắng gió mấy năm nay rồi.

Tôi vạch từng gốc cây, bụi cỏ, song chẳng tìm thấy di vật nào ngoài mấy cục đá vỡ nát chẳng khác gì đá nung vôi và một mảnh chân bia hiện làm nơi đặt bát hương trong “miếu thờ”. Anh Chạm dẫn tôi ra phía sau miếu, rồi vạch bụi cỏ lác cao quá đầu và chỉ tay giải thích rằng, đó chính là nơi diễn ra cuộc đào phá, tranh cướp di vật trong lăng mộ vua Trần từ 20 năm trước.

Cuộc phá mộ, tranh cướp kho báu tàn khốc

Trước đây, khu vực ven núi xã An Sinh là nơi người Hoa sinh sống. Tuy nhiên, cuối thập niên 70, đầu thập niên 80, họ bỏ đi đâu không rõ. Toàn bộ thung lũng khe Nghệ rộng mênh mông không có người ở, cỏ cây rậm rạp. Người Hoa đi, người Kinh kéo đến phát rừng làm vườn. Năm 1990, một số người phát rừng làm nương phát hiện ra lăng mộ đặc biệt này. Nghĩ rằng trong lăng mộ chứa kho báu, nên người ta đã hò nhau đào tung lên. Thông tin nhóm người đào mộ trúng kho báu lộ ra, cả xóm Bãi Đá hò nhau kéo đến hôi của. Người dân với cuốc, thuổng, xà beng, đào một hố rộng đến 30 mét vuông, sâu hoắm xuống lòng đất. Theo lời kể của những người tham gia đào bới lăng mộ, khi đào sâu xuống 5 mét, thì người dân kiếm được vô số vật báu, gồm cả vàng bạc, ngọc ngà, tiền cổ, đồ cổ quý hiếm bằng nhiều chất liệu, vũ khí bằng sắt, đồng… Tóm lại, đó là những vật dụng thời Trần dành cho vua chúa, giới thượng lưu dùng khi xưa. Khi đó, mạnh ai nấy cướp, người dân đã khuân đi vô số vật báu. Người gánh gồng, người vác vai, đội đầu, thậm chí đánh cả xe bò lên chở vật quý về. Theo lời anh Chạm, khi đào sâu xống lòng đất, thì phát hiện “căn nhà” xếp bằng những súc gỗ lớn. “Căn nhà” gồm nhiều phòng khác nhau và phòng nào cũng chứa ăm ắp cổ vật, của quý. Sau khi lấy hết của quý, người dân còn kéo những súc gỗ lớn từ lòng đất lên. Những người tham gia đào bới đều được chia phần, mỗi người vài súc gỗ còn nguyên vẹn. Những súc gỗ này tuy nằm dưới lòng đất nhiều trăm năm, song vẫn còn rất tốt, nên người dân xẻ làm giường, tủ, cánh cửa. Những sản phẩm làm từ gỗ lấy từ lăng mộ vua Nghệ Tông hiện người dân ở xóm Bãi Đá vẫn dùng đến ngày nay.

Theo lời kể của ông Đào Văn Hồng (xóm Bãi Đá), bên trong ngôi mộ mà ông cùng người dân đào phá có rất nhiều than gỗ, khối lượng lên đến vài tấn. Bên trong lớp than là lớp vôi bột và đặc biệt là chất màu đen bí ẩn giống như hắc ín. Những người dân xóm Bãi Đá không biết chất này là gì, nhưng màu đen, mềm, dẻo, dính như hắc ín nên gọi như vậy. Theo lời ông Hồng, thứ chất “hắc ín” này cháy đùng đùng, bốc mùi thơm khi châm lửa. Theo mô tả của ông Hồng, khả năng chất này là thứ nhựa cây nào đó, dùng để ướp xác, có thể là nhựa thông.

Theo lời ông Hồng, do hôi của chậm hơn những người khác, nên vợ chồng ông Hồng không lấy được báu vật gì. Vợ chồng ông Hồng cùng hàng chục hộ dân tranh nhau gánh than, “hắc ín”, vôi bột từ lòng mộ về bón ruộng. Mỗi người lấy cả chục gánh mà không hết. Người dân đồn rằng, ông K. lấy được nhiều “bạch phiến”, cùng với vàng bạc, bán được rất nhiều tiền. Theo lời người dân, thì thứ đó giống bạch phiến, nhưng khi tôi tham khảo các nhà khoa học, thì có thể đó chỉ là thứ chất bảo quản di hài, mà người xưa dùng, chứ không phải bạch phiến. Theo lời người dân, sau khi trúng quả, ông K. bỏ người vợ từng đồng cam cộng khổ ở quê nhà, bỏ vào Nam theo bồ nhí hưởng cuộc sống giàu có. Nhưng rồi, ông K. chết bất đắc kỳ tử khi vào trong Nam được 2 tháng.

Theo lời ông Hồng, khi mọi người đang tranh nhau gánh than về bón ruộng, thì một người ở đâu đó tìm đến kêu lớn: “Sao mọi người lại lấy những thứ này về? Ngôi mộ có than, lại có vôi bột là chôn người hủi đấy. Ngày xưa người ta rắc vôi để tránh bệnh hủi lây nhiễm đấy”. Khi đó, không ai biết đây là mộ vua, lại nghe người đàn ông lạ nói đây là mộ hủi, người dân bỏ chạy tán loạn. Mọi người nhảy xuống suối kỳ cọ rất sạch sẽ. Từ bấy, người dân xóm Bãi Đá ngọi ngôi mộ ở khe Nghệ là mộ hủi. Mãi sau này, khi các nhà khảo cổ về nghiên cứu, bảo đây là mộ vua Trần Nghệ Tông, thì mới biết đây là mộ vua và mới hiểu được tên khe núi là khe Nghệ.
Quả đồi… “vua hành”

Theo lời anh Nguyễn Văn Chạm, người sống cách lăng mộ vua Trần Nghệ Tông chừng 300 mét, sau khi người dân trong xóm Bãi Đá bỏ chạy tán loạn khỏi lăng mộ vì có người nói là mộ hủi, thì một thời gian sau có một nhóm người săn đồ cổ tiếp tục tìm đến đào bới. Nhóm người này tiếp tục đào mở rộng và sâu hơn. Khi đào qua lớp “nhà gỗ” (thực tế là mộ gỗ hình cũi, là loại mộ táng phổ biến từ thời Bắc thuộc, tồn tại đến thời Trần) khoảng 1 mét, thì gặp một phiến đá lớn, rất dày, rộng cả chục mét vuông, nặng hàng chục tấn. Nhóm người này đã đưa máy cẩu, máy tời vào quyết trục phiến đá lên. Tuy nhiên, máy cẩu, máy tời vừa vào đến nơi thì tất thảy nhóm đào mộ, điều khiển cẩu, tời đều lăn đùng ra đất co giật, sùi bọt mép. Người dân xóm Bãi Đá phải khiêng họ đi cấp cứu. Sợ quá, nhóm phá mộ này không dám bén mảng đến khe Nghệ nữa. Từ đó, lăng mộ tang hoang bị bỏ quên trên đỉnh đồi Nghệ.

Theo lời kể của ông Hứa Văn Phán, nguyên thủ từ đền Sinh, sau khi đào phá lăng mộ vua Trần Nghệ Tông, hàng loạt tai họa đã đổ lên đầu người dân xóm Bãi Đá. Đầu tiên là tai họa đổ xuống gia đình ông Nguyễn Văn H. Ông này là người tích cực nhất trong việc đào phá lăng mộ. Sau khi đào mộ, vài tháng sau ông chết đuối khi tắm ở con sông nhỏ chảy qua xã. Lúc xác nổi lên, thì những người vớt xác kinh hoàng với cảnh tượng đỉa bâu đen xác. Người ta phải dùng thòng lọng kéo xác ông lên bờ, rồi dùng que gạt từng con đỉa.

Ông H. là người khỏe mạnh, bơi lội rất giỏi, nên không ai tin được chuyện ông chết đuối ở con sông nhỏ xíu, nông choèn như vậy. Tất thảy người dân, kể cả ông Phán đều tin rằng, cái chết kinh dị của ông H. là do ông đã đào phá lăng mộ vua Trần Nghệ Tông. Sau cái chết của ông H. là hàng loạt biến cố tiếp tục xảy đến với người dân xóm Bãi Đá. Những gia đình gặp tai họa đều mang những thứ lấy từ mộ trả lại. Nhiều người đã nung những chân tảng, tượng đá thành vôi, dù đã tôi vôi, cũng gánh vôi đổ xuống mộ, rồi làm lễ tạ với vua. Nhiều người mang bàn, ghế, giường, tủ đóng bằng gỗ lấy dưới mộ, cũng đem ra ngôi mộ này đốt, trả lại cho vua. Những cục đá dùng lăn lúa, kè bờ ao lấy ở mộ cũng được khiêng trả lại, ném xuống hố. Nhiều món đồ cổ quý giá cũng được người dân đem trả lại.

Tôi tìm đến nhà ông Đào Văn Hồng, người tích cực tham gia vụ đào phá lăng mộ vua Trần Nghệ Tông. Khi tôi đến nhà, đã giữa buổi, song ông vẫn nằm còng queo trong giường. Nhắc đến cuộc đào bới lăng mộ khi xưa, ông Hồng vẫn còn sợ hãi. Vợ ông bảo rằng, từ hồi đào mộ vua đến giờ, tự dưng sinh ra ốm yếu, bệnh tật đầy mình. Theo ông Hồng, không chỉ gia đình ông, mà cả xóm Bãi Đá đều gặp vận rủi. Ở xóm nhỏ này, bao nhiêu năm nay, chẳng mấy gia đình được bình yên, nhà nào cũng lục đục, ốm đau, vợ chồng đánh chửi nhau lung tung phèng. Ông Hồng rầu rĩ: “Không biết có phải vì người dân trong xóm xâm phạm mộ vua, rồi bị vua phạt hay không, mà dù đất đồi rộng mênh mông, vườn tược bát ngát, mà cái xóm này cứ mãi nghèo xác nghèo xơ, nghèo nhất xã, nhất huyện”. Ngày đào phá mộ, ông Hồng tha về mấy súc gỗ, vợ ông hì hục gánh vôi, than về bón ruộng. Lúc gánh vôi thì vợ ông mang bầu, chửa 7 tháng. Khi đẻ, đứa con đã qua đời vì nhau thai phủ mặt. Nói rồi, vợ ông Hồng dẫn tôi ra thăm mộ con mình. Ngôi mộ vừa được vợ chồng ông xây lại, nhỏ bé, xinh xắn.

Tai họa không chỉ đổ lên đầu vợ chồng ông Hồng, mà đứa cháu ngoại sống cùng vợ chồng ông cũng thi thoảng dở chứng lạ. Thi thoảng bé lại lăn ra nhà mắt mũi trợn ngược, co giật đùng đùng. Vợ chồng ông không biết làm gì ngoài việc thắp hương khấn vái vua Trần tha mạng mỗi khi cháu ông rơi vào trạng thái đó. Rồi người em trai ông Hồng, cũng từng tham gia đào phá mộ vua, đã bị ung thư phổi, vừa mới chết được đôi năm nay.

Người dân xóm Bãi Đá, rồi toàn bộ cư dân thôn Bãi Dài không ai dám đến khe Nghệ nữa. Những câu chuyện ly kỳ, rùng rợn quanh lăng mộ được anh Nguyễn Văn Chạm ghi chép cẩn thận. Vợ chồng anh Nguyễn Văn Chạm mới chuyển về quả đồi giữa khe Nghệ từ năm 1996. Trước đó, gia đình chú ruột anh Chạm sống ở mảnh đất này. Khi về mảnh đất này, cả gia đình bệnh tật, ốm đau triền miên, trẻ con quấy khóc suốt đêm, mà đi bệnh viện khám chẳng ra bệnh gì. Sợ quá, nghĩ bị ma hành, nên ông chú đã bán lại cho anh Chạm mảnh đất rộng hơn 1 héc-ta với giá rẻ như cho, rồi chuyển đi nơi khác ở.

Gia đình anh Chạm về ở, vợ chồng cũng lục đục, nay ốm, mai đau, mắc đủ các loại bệnh. Vợ anh mắc bệnh gì chả rõ, thở không ra hơi, sức khỏe cứ suy kiệt dần. Có lần trèo cây vải, anh Chạm ngã gãy rời xương tay. Sau này, biết ngôi mộ trên đồi là mộ vua, được sự chỉ dẫn của thầy phong thủy, vợ chồng anh phá nhà làm theo hướng khác (ngôi nhà cũ hướng thẳng vào mộ). Sau đó, anh thành tâm đặt bát hương, cúng bái ở cả ngôi mộ và trong nhà, thì tình hình có vẻ yên ổn, cuộc sống trở lại bình thường.

Hãi hùng nhất là câu chuyện liên quan đến mảnh đất của ông Thành và ông Viện. Hai ông này quê ở Kinh Môn (Hải Dương), không biết đồi Nghệ có mộ vua, nên đã góp tiền mua chung 2,5 héc-ta đất trên đồi. Toàn bộ mảnh đất của hai ông này nằm trọn trong khu vực có lăng mộ. Có đất rồi, hai ông trồng vải, dựng nhà. Tuy nhiên, những sự kiện kinh hoàng liên tục diễn ra liên tục với hai ông này. Theo lời anh Chạm, cứ nửa đêm, hai ông cứ như bị dựng giường, không ngủ được. Khi vợ ông Thành lên đồi hái vải, tự dưng lăn đùng ra đất co giật, trợn mắt, sòi bọt mép. Bà này bị mấy lần như vậy. Sau nghe dân làng kể nhiều chuyện “ma hành” rùng rợn, ông Thành và ông Viện sợ hãi không dám sống ở đồi Nghệ nữa. Hai ông đã thuê ông Sỹ trông nom vườn vải, nhà cửa trị giá bạc tỷ ở đây. Một lần, khi ông Sỹ đang nhặt những tảng đá ném xuống ngôi mộ mà mọi người đã đào tung lên từ nhiều năm trước, để dọn vườn, lấp hố, thì đột nhiên ông Sỹ lăn đùng ra đất, mắt mũi trợn ngược, long sòng sọc, co giật toàn thân. Mọi người phải đưa ông Sỹ đi cấp cứu. Tiếp sau đó, hàng loạt người dẫy cỏ, hái vải thuê cho ông Thành, ông Viện, gồm chị Thu, chị Huệ, chị Chiếm, anh Tuấn… trong lúc làm việc trên đồi, cũng đột nhiên rơi vào triệu chứng co giật quái đản. Điều lạ là, với những người làm thuê này, chỉ cần khiêng ra khỏi khu đồi, là lập tức họ trở về trạng trái bình thường. Những người này sợ hãi, đi khám ở bệnh viện, song không tìm ra bệnh gì.

Những lời đồi kinh hãi về khe Nghệ khiến không ai dám đến quả đồi này nữa. Không ai dám làm thuê cho ông Thành, ông Viện, nên khu vườn vải của hai ông bỏ hoang hoàn toàn, nhà cửa ông ai ở. Mấy năm trước, một con trâu của nhà dân lạc lên đồi, bỗng nổi điên, cứ nhắm ngôi nhà của ông Thành, ông Viện để húc. Con trâu điên húc mạnh đến nỗi đổ cả tường, sập cả mái. Khe Nghệ từ đấy hoang vu, ngoài anh Chạm thì không ai dám bén mảng đến.

Dương Phạm chép theo lời kể

Chuyện kinh dị ở khe Nghệ – Đông Triều – Quảng Ninh
8 (160%) 1 vote

Có thể bạn quan tâm

Người Mẹ Quỷ - Truyện ma Tâm Linh mới nhất 2018

Người Mẹ Quỷ – Truyện ma Tâm Linh mới nhất 2018

Chào quý vị và các bạn hôm nay truyện audio hay hân hạnh gửi đến …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *